Tìm hiểu nguyên nhân dễ mắc thoai hoa cot song, bệnh thoai hoa dot song cobệnh trĩ ngoại ở giới trẻ hiện nay khi ngồi máy tính làm việc quá nhiều để có bài tập, cách phòng bệnh và bài thuốc nam hay điều trị bệnh hiệu quả!

THỐNG KÊ

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay493
mod_vvisit_counterHôm qua1289
mod_vvisit_counterTất cả3359240

Khách: 16
Băng quảng cáo
Băng quảng cáo
Hướng dẫn tập Khí Công Dưỡng Sinh / Liệu trình A - Phần C - NGHỈ NGƠI TÍCH CỰC
21:21, 24/09/2010
(Tập thành thục bài tập Dưỡng Sinh này, thì khi vận khí tập Dịch Cân Kinh, Nội Gia Thái Cực Dưỡng Sinh và  Lắc Khớp sẽ hiệu quả hơn)


II/ PHẦN LUYỆN KHÍ

1/ BÀI LUYỆN KHÍ SỐ 1 :    Dịch Cân Kinh

Ở tư thế đứng. Trong trạng thái thư giãn toàn thân. Người tập niệm thầm liên tục: "Tôi xin tập Dịch Cân Kinh"

1.     Nương theo sức tác động của khí, vận động toàn thân mềm dẻo, điều hòa trang nghiêm như nước chảy mây bay, liên tục không kẽ hở, không rối loạn.

2.     Hơi thở phải đi liền với động tác. Phải luôn nhận biết tỉnh giác toàn bộ quá trình tập luyện của Thân và Tâm. Nếu thấy động tác mất điều hòa trang nghiêm thanh tịnh thì phải kịp thời lập tức tự điều chỉnh.

3.     Nếu là Phật tử có thể kết hợp niệm hồng danh A Di Đà với động tác và hơi thở. Để làm cho khí luôn điều hòa trang nghiêm thanh tịnh không rối loạn. 

Đây là "Thiền Động" nên không được loạn động. Bởi vậy bài tập phải có "Thiền vị"nghĩa là phải có đủ 5 yếu tố sau:

1. Cơ thể vận động thư giản mà điều hòa trang nghiêm không rối loạn. Kết hợp động tác với hơi thở nhỏ, nhẹ, chậm, dài, sâu, điều hòa.

2. Khí trường nhẹ, mát, thông suốt, không rối loạn, không bức xúc đè nén hay bộc phát.

3. Hòa hợp đồng cảm với mọi người và môi trường chung quanh. Không để tham dục khởi lên làm rối loạn khí.

4. Luôn nhận biết tỉnh giác, luôn chứng kiến toàn bộ thân tâm mình khi tập, để kịp thời điều chỉnh cho đúng yếu chỉ của phương pháp.

5.  Nụ cười an lạc luôn nở trên môi.

Trong trạng thái đắc khí, nhận biết tỉnh giác không phán xét, môi trường và hoàn cảnh đang xảy ra với mình. Nhận biết tỉnh giác mình đang "biết" hết mọi sự và tâm vẫn luôn tịnh không mất tự chủ. Thế rồi trong cái yên lặng và đồng cảm sâu sắc ấy, người thực hành Thiền Năng Lượng hay Khí Công Dưỡng Sinh lỏng cơ cảm nhận chiều chuyển động của "Khí", để các động tác tự xuất hiện phi nỗ lực như là nước chảy mây bay, liên tục không rối loạn. Như là một sự nghỉ ngơi trong đồng cảm và nhận biết sâu sắc chứ không phải tập luyện. Cổ đức gọi là: ". . .ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm". Nghĩa là không trụ tâm cố định tại một nơi nào trên cơ thể, không trụ chắc tâm vào đâu cả. Nhưng phải luôn tỉnh giác cái gì cũng tự nhiên biết, từ động tác của cơ thể đến trạng thái tâm lý của mình. Giữ cho mọi biểu hiện của năng lượng luôn điều hòa, thanh tịnh, không trọng lượng và an lạc.Được như vậy chuyển động sẽ là toàn diện, phi nỗ lực, thuận tự nhiên, đầy nhận biết và không lạc vào vô thức bản năng.

Như nước chảy mây bay. Như bóng trúc quét trên thềm nhà, quét mà không lên mảy bụi. Như bóng trăng rơi xuống nước mà mặt nước chẳng cau mày. Như gió thổi nhà trống. Như lửa cháy khoảng không. Trong Tịnh ngoài Động. Động Tịnh kết hợp. Như lá cờ bay mà cán cờ đứng im không đổ. Cơ thể chuyển động mà tâm như như bất động. Thượng Hư hạ Thực, Khí trầm đan điền. Hơi thở như vô ra qua hàng  nghìn hàng triệu lỗ chân lông.

Khi tập đúng sẽ đạt trạng thái khinh an. Nghĩa là cơ thể nhẹ nhàng, động tác ung dung nhàn hạ, niềm vui không nguyên nhân hiển thị với nụ cười an lạc luôn nở trên môi.

Áp dụng vào cuộc sống: Xem môi trường sống và làm việc của mình như là sân tập. Hãy áp dụng các yếu chỉ của Khí Công Dưỡng Sinh vào cuộc sống để luôn thích ứng với mọi tình huống mà vẫn thường Tịnh và an lạc. Do vậy mà cảm nhận được hạnh phúc ở mọi nơi mọi lúc, cảm nhận được hạnh phúc qua từng hành động nhỏ nhặt bình thường và gần gũi nhất trong cuộc sống đời thường.

Kết thúc bài tập: Thu khí về Đan Điền và xoa bóp day bấm huyệt toàn thân theo bài xoa bóp số 1.

      MỘT SỐ ĐIỀU CẦN LƯU Ý:

CÁC CÁCH THỞ:

Khi tập để Đắc Khí: Thở bằng mũi, điều hoà.

Khi tập để Trị bệnh: Thở đặc trị bằng cách giải phóng mũi và miệng, niệm thầm liên tục mã khoá: "Tôi xin thở đặc trị". Tuỳ theo cơ địa và bệnh lý. Năng lượng giác ngộ sẽ tác động để kỹ thuật thở đặc biệt có âm thanh tự xuất hiện. Nhận biết tỉnh giác, đừng cố ý kìm giữ thì tự nhiên hơi thở đặc trị sẽ tự xuất hiện. Kết hợp động tác hai tay và hơi thở đặc trị bệnh.

Khi tập Động Tác Đặc Trị: Niệm mã khoá để thở Đặc Trị. Kết hợp động tác và hơi thở.

Khi tập Xà Quyền:  Niệm mã khoá xin thở xà quyền. Kết hợp hơi thở theo kiểu Xà với chuyển động cột sống mềm dẻo trên nền đất cứng.

Khi tập Dịch Cân Kinh hay Phật Gia Quyền: Niệm mã khoá để hơi thở xuất hiện, nhỏ, nhẹ, chậm, dài, sâu và điều hoà. Nếu là Phật tử thì nên kết hợp hơi thở này với tiếng niệm hồng danh A Di Đà và động tác chậm rãi, điều hoà, trang nghiêm, thanh tịnh.

Khi uống Thiên Hương Khí: Thở đặc trị.

 

CÁC KIỂU ĐỘNG TÁC:

Khi Trị Bệnh: Chỉ sử dụng động tác hai tay để thực hiện các thủ pháp: Xoa bóp day bấm huyệt, vỗ lỏng cổ tay, gõ Mai Hoa bằng 10 đầu ngón tay, rà miết các đường kinh và lạc.

 Khi tập Động Tác Đặc Trị Bệnh : Động tác toàn thân. Hình thức là động tác Yoga liên hoàn, cân đối, giữ thăng bằng, mềm dẻo.

Khi tập Xà Quyền: Động tác chuyển động cột sống mềm dẻo như rắn trườn trên cỏ. Không đứng lên để bước đi mà vẫn di chuyển dễ dàng bằng xà tấn.

Khi tập Phật Gia Quyền hay Dịch Cân Kinh:

Động tác phải "Khinh an" nghĩa là quán tưởng cơ thể nhẹ dần đi, buông xuôi, lỏng cơ thư giãn tối đa. Đó là chuyển động trong thư giãn hay là nghỉ ngơi tích cực.

Ngoài ra trạng thái động tác phải luôn là an lạc, với nụ cười yên lặng luôn nở trên môi. Nhận biết tỉnh giác để giữ cho động tác không biểu lộ tham dục.

Bài tập không có những chiêu thức tách bạch, mà như nước chảy mây bay luôn liên tục điều hoà, vô thuỷ vô chung, không lúc nào gián đoạn.

Khi tập Uống Thiên Hương Khí: Động tác có hình thức trị bệnh và thường rất mãnh liệt. Bởi vậy phải luôn nhận biết tỉnh giác để luôn tập vừa với sức của mình. Tuyệt đối không được tập quá sức.

Khi xoa bóp bấm huyệt cuối buổi tập: Động tác là Thể Dục ý Thức.

 

CÁC TRẠNG THÁI TÂM LÝ:

1.     Nói chung phải luôn nhận biết tỉnh giác toàn bộ quá trình tập từ sự chuyển động của cơ thể tới trạng thái tâm lý của mình.

2.     Luôn biết mình đang có chuyển động điều hoà trang nghiêm thanh tịnh không trọng lượng.

3.     Luôn biết tâm mình đang trụ chắc vào đề mục của buổi tập, không suy nghĩ vẩn vơ hay khởi tình cảm kích động. Tâm luôn Tịnh và An Lạc.

4.     Khi phát hiện chuyển động và tâm lý không đúng qui định, phải lập tức tự ra lệnh cho não điều chỉnh ngay. Nếu điều chỉnh không được thì phải thu khí về đan điền chứ không được để các biểu hiện xảy ra trong vô thức bản năng mất tự chủ.

5.     Đây là Thiền Năng Lượng cho nên các biểu hiện phải có thiền vị. Nghĩa là luôn ung dung, nhàn hạ, an lạc, tự tại, không rối loạn và không kích động.

Chú ý:

Khi mới đắc khí, trong vài ngày đầu tình trạng chuyển bệnh sẽ xảy ra. Nên sẽ buồn ngủ nhiều hơn. Phân và nước tiểu sẽ đổi màu. Mồ hôi sẽ ra nhiều hơn bình thường và có mùi hôi. Tại vùng bị bệnh sẽ có cảm giác hơi đau hơn bình thường một chút. Sau vài hôm trạng thái này sẽ qua đi và bệnh sẽ giảm dần đi. Do vậy khi có các biểu hiện này thì đừng lo lắng. Sau giai đoạn chuyển bệnh này. Sẽ ngủ được, ăn được, cơ thể sẽ dễ chịu hơn trước là tập đúng. Còn nếu thấy cơ bắp đau nhức, khó ngủ là đã tập quá sức, cần phải nghỉ ngơi hay giảm liều lượng tập.

 

                                                                  D/ CHỦ ĐỀ:  RÈN LUYỆN KHẢ NĂNG CHÁNH NIỆM VÀ TỈNH GIÁC

1/ Bài tập Cân Bằng Nước: 

Ở tư thế đứng, trang nghiêm, thanh tịnh, lỏng cơ, an thần, tâm lý tịnh và an lạc, thở điều hòa. Thụ khí. Đặt một ly nước trên đỉnh đầu tại đại huyệt Bách Hội.

Niệm thầm liên tục trong tâm: " Tôi xin tập Dịch Cân Kinh toàn thân với Cân bằng Nước ".

Nương theo chiều tác động của năng lượng, chuyển động toàn thân, mềm dẽo, điều hòa, chậm rải, không trọng lượng.

Luôn nhận biết tỉnh giác. Biết Thân mình đang chuyển động trang nghiêm thanh tịnh, khinh an. Biết Tâm mình đang tịnh và an lạc không kích động, không có các chướng ngại phiền não, sân si, lo âu, đau khổ và bức xúc. Nếu không được vậy thì nhất thiết phải điều chỉnh. Được như vậy thì tập Dịch Cân Kinh ở mọi tư thế, đứng, rùn gối, quì, ngồi và sát đất mà ly nước vẫn không đổ.

Nếu là Phật tử thì có thể kết hợp chuyển động không trọng lượng của Dịch Cân Kinh, hơi thở an lạc điều hòa và hồng danh A Di Đà Phật khi hành công để gia tăng hiệu quả.

Nếu mất nhận biết, ly nước trên đỉnh đầu sẽ rơi xuống đất

Nếu chuyển động nhanh, mạnh, rối loạn, ly nước cũng sẽ rơi xuống đất

Nếu hơi thở không điều hòa sẽ đẫn đến rối loạn khí, do vây động tác sẽ loạn động và ly nước cũng sẽ rơi xuống đất.

Vậy ly nước trên đỉnh đầu như người Giám Thiền giúp cho người tập KCDS chỉ có thể tập đúng không thể tập sai.

Đây là bài tập kiểm tra của liệu trình A/KCDS. Chỉ khi nào hành giả tập Dịch Cân Kinh ở mọi tư thế với ly nước trên đỉnh đầu mà không bao giờ bị rơi ly nước thì mới được phép tự tập KCDS một mình. Còn trước đó nhất thiết phải tập với sự giám thiền chặt chẻ của Huấn Luyện Viên.

Bài tập có công năng tăng cường sức khỏe, tự điều trị bệnh, chống lão hóa kéo dài tuổi thọ, điều trị lành Thân và Tâm bệnh, giúp cho người tập kỹ năng sống chánh niệm và tỉnh giác, luôn làm chủ lời nói, hành vi và ý nghĩ của mình để luôn thăng hoa chúng về hướng Chân Thiện Mỹ.

. . . . . . .

g/ CHỦ ĐỀ:        UỐNG THIÊN HƯƠNG KHÍ

Sau khi tập Dịch Cân Kinh toàn thân với Cân Bằng Nước. Bạn ngồi xuống, lấy ly nước trên đỉnh đầu xuống Uống Thiên Hương Khí để tự điều trị Thân và Tâm bệnh của mình. Cách làm như sau:

Cầm ly nước vào tay thuận. Tay kia đặt trước ngực. Mũi nhọn bàn tay hướng lên trời. Quán tưởng năng lượng vũ trụ phóng vào ly nước, làm ly nước tự chuyển động trong không trung theo các đường Mantra huyền diệu. Niệm thầm liên tục trong đầu: "Tôi xin uống ly Thiên Hương Khí này để tự điều trị lành bệnh. . . .của tôi". Bi bệnh gì thì niệm xin điều trị bệnh ấy.Tùy theo bệnh khác nhau, năng lượng sẽ điều khiển ly nước chuyển động theo các đường Mantra khác nhau. Khi nào đã đầy đủ sức mạnh, ly nước sẽ tự đưa vào miệng. Khi ấy thì uống đi. Uống bao nhiêu vừa đủ ly nước sẽ tự chạy trở ra và đặt xuống sàn.

Nếu uống đúng phương pháp, Tâm luôn Tịnh và An Lạc, thì Thiên Hương Khí sẽ gia tăng công lực của người tập khiến đắc khí mạnh hơn, sau đấy các biểu hiện an thần, giải tỏa stresss, thải độc và tự điều trị bệnh sẽ tự xuất hiện. Người tập phải luôn tỉnh giác để giữ cho các biểu hiện này luôn chậm, nhẹ, điều hòa, không trọng lượng.

Đăc biệt, nếu là bệnh nhân Hen Suyển, viêm phế quản, viêm họng hạt. . . .v.v. . .có đờm đặc quánh đóng ở cổ họng, thì sau khi uống Thiên Hương Khí, điều khí về huyệt Thiên Đột chổ thoi thóp trước cổ họng. Toàn bộ đờm ở cổ họng sẽ bị đẩy ra ngoài cải thiện chức năng hô hấp, cắt cơn hen cấp tính.

Nếu là bệnh nhân bị bệnh ở tuyến tiêu hóa như viêm loét dạ dày tá tràng, rối loạn dịch vị . . .v.v. . .thì sau khi uống Thiên Hương khí, điều khí về huyệt Cưu Vĩ, toàn bộ dịch thừa ở bao tử sẽ bị nội lực đẩy ra ngoài khiến bớt đau rát và tạo điều kiện chửa lành bệnh. 

Các bệnh nhân khác thì quán tưởng trọc khí theo tuyến mồ hôi hay bài tiết thải ra ngoài. Về nhà, phân và nước tiểu sẽ đổi màu đi, chảy mồ hôi nhiều và có mùi hôi. An thần nghĩa là khí sẽ gây ngủ tại lớp hay ở nhà để tự điều trị bệnh.
Ngoài ra,Thiên hương khí sẽ làm động tác trị bệnh đa dạng hơn, mạnh hơn và hiệu quả hơn. Người tập cần tỉnh giác để làm chủ mọi biểu hiện này.

. . . . .

 

Thêm nhận xét


Security code
Không rõ, lấy lại hình mới