|
21:34, 02/07/2009 |
Hiện nay, trong hoàn cảnh ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm không khí nói riêng, tình trạng viêm mũi mạn tính rất thường gặp. Tuy không phải là một bệnh lý nguy hiểm nhưng viêm mũi mạn tính lại là khởi nguồn của nhiều chứng bệnh quan trọng khác như hen phế quản, viêm phổi, viêm phế quản cấp và mạn tính... Bởi vậy, việc lựa chọn và thực thi các biện pháp trị liệu nhằm khống chế và giải quyết triệt để căn bệnh này là hết sức cần thiết.
|
|
21:29, 02/07/2009 |
|
Tác giả : Lương y VÕ HÀ Tam âm giao là một trong số những huyệt vị được sử dụng nhiều nhất trong châm cứu cổ truyền. Do phạm vi tác dụng rộng và tính tự điều chỉnh cao, đặc biệt là công năng dưỡng âm và ổn định thần kinh, Tam âm giao có thể được tác động hàng ngày như một phương pháp dưỡng sinh.
|
|
21:26, 02/07/2009 |
Sau khi đã xông hơi và thay quần áo sạch, nên ăn một bát cháo hành hoặc uống nước ấm và nghỉ ngơi. Phòng nghỉ phải thoáng về mùa hè và ấm về mùa đông...Dược liệu thường dùng để xông và tắm hơi thuốc: hoắc hương, tía tô, cây hy thiêm, lá ngải cứu, đơn tướng quân mỗi thứ 30-40 g. Lá lốt, cây xấu hổ mỗi thứ 40-50 g, lá long não 20-30 g, quế chi 15 g.
|
|
09:05, 02/07/2009 |
rong y học cổ truyền, viêm họng mạn tính thuộc phạm vi chứng Hầu tý, được phân chia thành nhiều thể bệnh khác nhau như Phế âm hư tốn, Can thận âm hư, Tỳ thận dương hư, Đàm hỏa uất kết... Nhưng với bất cứ thể bệnh nào, ngoài việc dùng thuốc theo nguyên tắc biện chứng luận trị, theo quan niệm của cổ nhân, người bệnh có thể tự tiến hành một số thao tác xoa bóp
|
|
|
08:59, 02/07/2009 |
Bong gân là trạng thái tổn thương ở dây chằng khớp, xảy ra do sự cử động quá mức, làm khớp xê dịch đột ngột trong khoảnh khắc rồi trở về vị trí. Bệnh nhân không bị sai khớp hay gãy xương. Tổn thương thường xảy ra khi đi giày cao gót bị lật giày, hoặc ngã do chạy nhảy.Khi bị bong gân, bệnh nhân cảm thấy đau nhói như điện giật ở vùng khớp bị trẹo, sau đó, khớp tê dại không còn biết đau nữa. Khoảng 1 giờ sau, cảm giác đau nhức dần dần trở lại. Nếu nhẹ nhàng lật khớp lại giống như lúc bị chấn thương, người bệnh sẽ thấy đau nhói như điện giật. Bong gân thường chia ra 3 độ: - Độ 1: Dây chằng chỉ bị giãn dài một ít, được coi là nhẹ. - Độ 2: Dây chằng bị rách một phần, dấu hiệu nặng. - Độ 3: Dây chằng bị đứt hoàn toàn, dấu hiệu rất nặng.
Cách xử lý: Đắp nước đá hoặc nước lạnh ngay sau khi bị chấn thương nếu không có xây xát da. Để khớp bị bong gân nằm yên, kê càng cao càng tốt. Nếu bong gân độ 1, chỉ cần làm cho hết đau và cho khớp nghỉ ngơi vài ngày là đủ. Nếu bong gân độ 2-3, cần làm cho hết đau, đồng thời giúp dây chằng bị đứt hoặc rách liền lại, nếu không sẽ mang tật suốt đời.
Thuốc dùng: - Lá ngải cứu khô 40 g (hoặc tươi 100 g), tẩm rượu hoặc giấm thanh, bó vào nơi tổn thương; hoặc đem xào cho nóng lên để còn hơi âm ấm, bó vào nơi tổn thương. Ngày 1 lần. - Lá tầm gửi 100 g, lá gấc 30 g, gạch non một ít, giã nát, trộn chung, đắp vào vùng tổn thương. Ngày thay một lần. BS Hoàng Bội Hương, Sức Khoẻ & Đời Sống
|
|
08:57, 02/07/2009 |
Huyệt Túc tam lý trong Y học cổ truyền phương Đông rất được coi trọng vì có khả năng nâng cao sức khỏe một cách toàn diện. Huyệt này được dùng như liều 'doping' an toàn dành cho các vận động viên khi cần có sức bật, sức bền, sự dẻo dai... cũng như một tâm lý ổn định.Huyệt Túc tam lý thường được dùng trong chữa các bệnh về đường tiêu hóa và một số bệnh toàn thân như liệt nửa người, thấp khớp, viêm đa khớp dạng thấp, đái tháo đường, suy nhược, thiếu máu, huyết áp cao, dị ứng, vàng da, động kinh, bệnh sinh dục tiết niệu, thần kinh suy nhược... Vị trí huyệt nằm ở dưới đầu gối, cách hõm dưới ngoài xương bánh chè ba khoát ngón tay (ngang một bàn tay) và cách bờ xương ống chân một khoát ngón tay (khoảng 1,8 cm). Có hai cách: cứu (làm nóng) và bấm huyệt Túc tam lý: - Cứu bằng điếu ngải: Ngải cứu khô tán vụn, dùng giấy bản cuốn thành điều ngải bằng ngón tay. Khi cứu thì châm lửa hơ trên huyệt từ 3 đến 5 phút cho đến khi vùng huyệt và toàn thân nóng ấm là được. - Cứu bằng gừng, tỏi: gừng tươi hoặc tỏi tươi thái lát mỏng đặt lên huyệt, dùng một nhúm nhỏ ngải nhung, ấn ép thành hình quả núi trên lát gừng hoặc lát tỏi rồi châm lửa cho cháy dần. Chú ý: Nếu không có ngải nhung thì dùng tạm ba nén hương thơm, chụm lại để cứu cũng được. Thường khi cứu không nên để bỏng, (nhưng cũng có quan điểm để có tác dụng chữa bệnh thì nên gây bỏng). Nên cứu huyệt Túc tam lý ở cả hai bên. Cách bấm huyệt: Dùng đầu ngón tay cái bấm mạnh và vuông góc vào huyệt để tạo tác dụng tối đa. Mỗi ngày có thể day bấm 3 đến 5 phút. Khi bấm tạo được cảm giác căng tức tại huyệt vị là đạt yêu cầu. Nên bấm huyệt Túc tam lý cả hai bên trước và ngay sau khi thi đấu, luyện tập. Phương pháp này rất hữu dụng với người có tạng hàn. Những người tạng nhiệt thì nên giảm bớt thời gian cứu hoặc chỉ bấm huyệt. Bác sĩ Quách Tuấn Vinh, Khoa Học và Đời Sống
|
|
08:54, 02/07/2009 |
Viêm túi mật là một bệnh thường có nguyên nhân do sỏi túi mật gây ra. Nếu không được điều trị thường diễn biến kéo dài và tiến triển đến viêm hoại tử túi mật, tắc mật do sỏi... Bài viết dưới đây xin giới thiệu về phương pháp bấm huyệt đã được y học cổ truyền áp dụng để điều trị căn bệnh này.Biểu hiện của bệnh: Thường gặp nhất là đau, tức ở vùng thượng vị, sát với bên phải mũi ức. Trong những đợt viêm cấp, người bệnh có thể bị sốt hoặc vàng da, vàng mắt... nếu như có hiện tượng viêm tắc túi mật kèm theo. Có thể đau dữ dội thành cơn ngay sau khi ăn trứng, uống sữa... do các thực phẩm này kích thích co bóp túi mật. Bệnh nhân thường có cảm giác ấm ách khó chịu, đau lan ra sau lưng và xuyên lên bả vai phải. Có nhiều phương pháp chữa bệnh viêm túi mật. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh, có thể là mổ cắt túi mật, mổ lấy sỏi... hoặc uống thuốc điều trị... Trong thực tiễn điều trị, bấm huyệt được coi là một trong những phương pháp chữa bệnh viêm túi mật của y học cổ truyền nhằm mục đích giảm đau, chống viêm... Bạn có thể áp dụng tự bấm huyệt kết hợp với các phương pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả điều trị bệnh. Phương huyệt thường được chọn là: Ðởm nang, Nhật nguyệt, Nội quan, Khâu khư, Lao cung, Túc tam lý... Phương huyệt này có tác dụng bình can, lợi đởm, giáng khí, chỉ thống, thông lạc, hóa thấp nhiệt, dưỡng tâm, an thần. Vị trí và tác dụng của các huyệt Ðởm nang là kỳ huyệt, có vị trí nằm dưới và phía ngoài đầu gối. Cách huyệt Dương lăng tuyền khoảng 2 thốn (tương ứng khoảng 4-4,5cm). Là huyệt chủ yếu chữa bệnh viêm túi mật, có tác dụng giảm đau, chống co thắt. Theo kinh nghiệm của tiền nhân, thường dùng huyệt vị này phối hợp với khâu khư, nội quan để chữa bệnh viêm túi mật. Còn có thể dùng huyệt đởm nang để chẩn đoán bệnh viêm túi mật hay giun chui ống mật do khi mắc các bệnh này, bấm vào huyệt thường thấy đau. Khi bấm huyệt đởm nang, cần chú ý dùng đầu ngón tay cái bấm mạnh, tạo được cảm giác đau tức, lan xuống bàn chân là tốt. Khâu khư là huyệt thuộc kinh Túc thiếu dương Ðởm, là nguyên huyệt của Ðởm kinh. Vị trí ở dưới mắt cá ngoài bàn chân, nằm giữa 2 huyệt Giải khê và Thân mạch. Khi bấm huyệt này thường có cảm giác ê tức. Bấm huyệt Khâu khư nhằm mục đích sơ can, lợi đởm, thông lạc, hóa thấp nhiệt... Nội quan là huyệt thuộc kinh Thủ quyết âm Tâm bào lạc, có vị trí nằm ở mặt trước cổ tay, cách lằn chỉ cổ tay 2 thốn (tức là bằng 1/6 khoảng cách từ lằn chỉ cổ tay đến nếp gấp khuỷu tay). Bấm huyệt này có tác dụng tuyền thông khí cơ ở tam tiêu, điều trung khí. Theo y học hiện đại, bấm huyệt nội quan giúp điều hòa thần kinh thực vật, an thần nên có tác dụng chống co thắt, dẫn đến tác dụng giảm đau tích cực trong chữa bệnh viêm túi mật. Nhật nguyệt cũng là huyệt thuộc kinh bên phải Túc thiếu dương Ðởm, là Mộ huyệt của Ðởm, có vị trí nằm sát bờ trên xương sườn 7 và bờ dưới xương sườn 8, thẳng núm vú xuống. Tiền nhân cho rằng có tác dụng sơ đởm khí, hóa thấp nhiệt, hòa trung tiêu, chỉ thống... nên thường được áp dụng trong chữa trị viêm túi mật. Lao cung cũng là huyệt thuộc kinh Thủ quyết âm Tâm bào lạc, còn có tên là huyệt Ngũ lý. Vị trí nằm ở chính giữa lòng bàn tay, khi gấp ngón tay vào bàn tay, đầu ngón tay giữa đến đâu là huyệt ở đấy. Bấm huyệt này có tác dụng thanh tâm hỏa, trừ thấp nhiệt, an thần, hòa vị, tức phong... Kinh nghiệm của tiền nhân thường phối hợp huyệt Lao cung với huyệt Túc tam lý. Sách Phối huyệt khái luận giảng nghĩa cho rằng Lao cung có tính mát mà đi xuống, bởi vậy điều lý được trệ khí, thư được uất kết do thất tình nội thương, thanh được nhiệt ở hung cách. Túc tam lý là huyệt thuộc kinh Túc dương minh Vị, vị trí nằm dưới và phía ngoài đầu gối, cách huyệt Ðộc tỵ (hõm dưới - ngoài xương bánh chè) ngang một bàn tay của người bệnh. Là huyệt thường dùng để chữa các bệnh đường tiêu hóa, có tác dụng giảm đau, chống co thắt. Theo các y gia, bị "phúc thống tam lý cầu" (có nghĩa là đau bụng) thì cần dùng đến huyệt túc tam lý! Khi bấm huyệt túc tam lý, cần chú ý dùng đầu ngón tay cái bấm mạnh, tạo được cảm giác đau tức, lan xuống bàn chân là tốt. Cách bấm huyệt: Mỗi ngày, bạn có thể bấm huyệt 1-2 lần, mỗi huyệt nên bấm 1-3 phút. Nên bấm huyệt một đợt 10-15 ngày liên tục. Khi đau, nếu bấm huyệt có thể đạt được tác dụng giảm đau. Các biện pháp phối hợp: Cần chú ý kết hợp với việc tiết chế chế độ ăn: nên kiêng ăn trứng, sữa... Trong đợt đau, nên ăn các thức ăn dễ tiêu. Sau khi ăn xong cần nằm nghỉ, tránh lao động nặng. Ở người lao động trí óc, cần tránh làm việc căng thẳng, đảm bảo ngủ tốt... Ngoài ra người bệnh cần chú ý đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Tác giả : BS. QUÁCH TUẤN VINH
|
|
08:45, 02/07/2009 |
Phì đại tiền liệt tuyến lành tính (Prostatic hypertrophy, PH) hay còn gọi là tiền liệt tuyến tăng sinh là một bệnh thường gặp ở nam giới khi tuổi bắt đầu cao và đang có xu hướng gia tăng. Trên lâm sàng, bệnh được biểu hiện bằng các triệu chứng rối loạn tiểu tiện như tiểu khó, tiểu nhiều lần về đêm, bí tiểu hoặc tiểu tiện không tự chủ... với mức độ ngày càng nặng dần theo thời gian và cuối cùng sẽ dẫn tới suy thận nếu như không được điều trị kịp thời, hợp lý và hiệu quả.Trong y học cổ truyền, bệnh này thuộc phạm vi các chứng như Long bế, Lâm chứng, Tinh long... với cơ chế bệnh sinh chủ yếu là do rối loạn công năng một số tạng phủ như phế, tỳ, can, thận dẫn đến hậu quả bàng quang không được khí hóa đầy đủ mà phát sinh thành bệnh. Về mặt trị liệu, ngoài việc dùng thuốc uống trong hoặc ngâm ngoài, cổ nhân còn chú ý sử dụng các biện pháp không dùng thuốc, trong đó có vấn đề tự lựa chọn và day bấm một số huyệt vị châm cứu nhằm dự phòng tích cực và hỗ trợ điều trị. Dưới đây, xin được giới thiệu một quy trình cụ thể để độc giả có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết. 1. Xoa bụng dướiDùng hai bàn tay đặt chồng lên nhau xoa bụng dưới theo chiều kim đồng hồ với một lực vừa phải chừng 30 vòng, sao cho tại chỗ ấm lên là được. Thao tác này có tác dụng trợ dương khí cho hạ tiêu (làm ấm vùng bụng dưới), giúp quá trình khí hóa bàng quan (kích thích co bóp và làm giãn cơ thắt cổ bàng quang) được thuận lợi, nhờ đó mà việc bài tiết nước tiểu được thực hiện dễ dàng. 2. Day bấm huyệt Khí hảiDùng ngón tay cái hoặc ngón tay trỏ day bấm huyệt Khí hải trong 1 phút. Vị trí huyệt Khí hải: Ở dưới rốn 1,5 tấc trên đường trục giữa cơ thể (ảnh 1). Theo y học cổ truyền, Khí hải là bể của sinh khí, là nguồn năng lượng cần thiết cung cấp cho sự sống, có công dụng điều khí, bổ thận dương, làm ấm hạ tiêu, nhờ đó giúp cho chức năng khí hóa bàng quang được thực hiện. Y thư cổ Thái ngải thiên viết: "Khí hải là biển của sinh khí, nó chủ trị được tất cả các bệnh". 3. Day bấm huyệt Quan nguyênDùng ngón tay cái hoặc ngón tay trỏ day bấm huyệt Quan nguyên trong 2 phút. Vị trí huyệt Quan nguyên: Ở dưới rốn 3 tấc trên đường trục giữa cơ thể. "Quan" có nghĩa là cái chốt đóng cửa, ý muốn nói là chỗ hiểm yếu; "Nguyên" có nghĩa là mới đầu, to lớn. Vì huyệt vị này là nơi chứa đựng nguyên khí, là nguồn năng lượng rất lớn cần cho sự sống nên được gọi là Quan nguyên. Day bấm huyệt này có tác dụng bổ thận cố bản, bổ khí hồi dương, làm ấm hạ tiêu, giúp cho quá trình khí hóa bàng quang được thuận lợi, cải thiện tình trạng rối loạn tiểu tiện. 4. Day bấm huyệt Lợi niệuDùng ngón tay cái hoặc ngón trỏ day bấm huyệt Lợi niệu trong 2 phút. Vị trí huyệt: Ở dưới rốn 2,5 tấc hay chính là trung điểm của đường nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu. Ðây là một tân huyệt (huyệt mới), còn gọi là huyệt Chỉ tả, có công dụng chữa các chứng bệnh như bí tiểu, tiểu rắt, đái dầm, đi lỏng do viêm ruột... Theo kinh nghiệm của nhiều nhà châm cứu, có khi chỉ cần day bấm duy nhất huyệt vị này cũng đủ để cải thiện tình trạng rối loạn tiểu tiện, miễn sao phải xác định chính xác vị trí huyệt và tác động đúng kỹ thuật. Nghĩa là, sau khi tìm được huyệt thì dùng ngón tay day đều theo chiều kim đồng hồ rồi từ từ bấm với một lực tăng dần kết hợp với rặn tiểu tích cực. Thông thường nếu xác định đúng huyệt thì việc đi tiểu sẽ dễ dàng hơn, tia nước tiểu mạnh hơn. 5. Day bấm huyệt Âm lăng tuyềnDùng ngón tay cái day bấm huyệt trong 1 phút. Vị trí huyệt Âm lăng tuyền: Là điểm gặp nhau ở chỗ lõm sau bờ sau trong đầu trên xương chày với đường ngang qua lồi củ trước xương chày, phía dưới bên trong đầu gối (ảnh 2). Ðây là huyệt vị nằm trên đường kinh tỳ, có khá nhiều công dụng, trong đó có khả năng điều hòa bàng quang nên thường được dùng để chữa một số chứng bệnh thuộc đường tiết niệu như bí tiểu, tiểu khó, đái dầm, tiểu không tự chủ. Cổ nhân thường sử dụng phối hợp với hai huyệt Khí hải và Tam âm giao. 6. Day bấm huyệt Tam âm giaoDùng ngón tay cái day bấm huyệt trong 1 phút sao cho đạt cảm giác căng tức là được. Vị trí huyệt Tam âm giao: Ở chỗ lõm sát bờ sau trong xương chày, trên chỗ lồi cao nhất của mắt cá trong 3 tấc (ảnh 3). "Tam" có nghĩa là ba, "âm" trái với dương, chỗ mặt trong chân so với mặt ngoài chân, "giao" có nghĩa là chỗ gặp nhau, huyệt ở tại chỗ gặp nhau của ba đường kinh âm nên gọi là Tam âm giao. Ðây là huyệt có liên hệ mật thiết với ba tạng Tỳ, Can và Thận, Tỳ và Thận lại có vai trò rất lớn trong việc khí hóa bàng quang nên tác động vào huyệt Tam âm giao có thể trị các bệnh thuộc hệ tiết niệu và sinh dục, trong đó có các chứng trạng như bí tiểu, tiểu khó, đái dầm... Trên thực tế, các nhà châm cứu thường dùng Tam âm giao phối hợp với huyệt Trung cực và Thủy đạo hay Quan nguyên, Trung cực và Dương lăng tuyền để trị liệu chứng Long bế. 7. Day bấm huyệt Thái khêDùng ngón tay cái day bấm huyệt Thái khê trong 1 phút sao cho đạt cảm giác căng tức là được. Vị trí huyệt Thái khê: Ở điểm giữa của đường nối bờ sau mắt cá trong và mép trong gân gót, ngang với mỏm cao nhất của mắt cá trong (ảnh 4). Ðây là một trong những huyệt vị quan trọng của đường kinh Thận, có công dụng bổ thận âm, làm mạnh lưng gối, làm khỏe dương khí, nhờ đó mà tăng cường chức năng khí hóa của bàng quang, giúp cho việc bài tiết nước tiểu được dễ dàng. 8. Xát cột sống thắt lưngDùng hai bàn tay đặt hai bên khối cơ cạnh cột sống thắt lưng, xát lên xuống chừng 60 lần sao cho tại chỗ nóng lên là đạt yêu cầu (ảnh 5). Thao tác này có tác dụng kích thích các du huyệt nằm dọc hai bên cột sống, giúp cho quá trình khí hóa bàng quang được thuận lợi.?
|
|