Băng quảng cáo
Băng quảng cáo



CHRISTIANE NÜSSLEIN-VOLHARD
08:12, 03/06/2010
NHÀ KHOA HỌC LỚN
CỦA THẾ KỶ XX
Những thành tựu khoa học ngày càng vươn tới những chân trời mới, mang lại sự biến đổi sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội loài người. Theo dự đoán của nhiều nhà khoa học, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của sinh học với nhiều công nghệ khác nhau và chủ yếu tập trung vào 4 lĩnh vực chính là công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh và công nghệ Enzym. Một trong những nhà khoa học lớn có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này và đã được nhận Giải thưởng Nobel về sinh lý học và y học, đó là GS-TS Christiane Nüsslein-Volhard.

GS-TS Christiane Nüsslein-Volhard sinh ngày 20/10/1942 tại Magdeburg (Đức), là con thứ hai trong một gia đình nghệ sĩ có 5 người con. Khi còn nhỏ, Christiane Nüsslein rất chú ý đến các sự vật xung quanh, có nhiều ý tưởng, dự định trong nhiều lĩnh vực và thường tìm hiểu những chủ đề này thông qua việc đọc sách. Christiane Nüsslein rất thích cây cối, yêu động vật và mơ ước trở thành nhà sinh vật học từ khi 12 tuổi.

Hồi còn đi học, do không lấy gì làm chăm chỉ lắm nên Christiane Nüsslein chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học với mức trung bình; thậm chí suýt nữa còn không trả nổi bài thi tiếng Anh. Trong phiếu thành tích học tập của Christiane Nüsslein có đoạn như sau: Mặc dù tài năng của học sinh được thể hiện tương đối đều trong các lĩnh vực học, nhưng thành tích thì khác nhau tuỳ vào sự quan tâm. Học sinh này tỏ ra rất lười nhác với những môn không quan tâm, còn đối với những môn yêu thích, học sinh này đã thể hiện vượt xa những yêu cầu của mục đích một trường học bình thường. Nhưng phiếu thành tích học tập cũng công nhận: Christiane Nüsslein là học sinh có năng khiếu vượt mức trung bình, có óc phán đoán, suy xét tốt, có năng lực trong công việc nghiên cứu khoa học độc lập. Ở trường, Christiane Nüsslein rất thích các môn văn học Đức, toán học và sinh vật học. Giờ sinh vật học đã giúp Christiane Nüsslein hiểu biết về rất nhiều chủ đề đương đại như: Sự di truyền, tiến hoá và hành vi của động vật. Vào lễ tốt nghiệp trường phổ thông, Christiane Nüsslein đã được đọc bài viết của mình về Ngôn ngữ động vật (Sprache bei Tieren).

Năm 1962, sau khi tốt nghiệp trung học, Christiane Nüsslein quyết định sẽ trở thành một nhà nghiên cứu về sinh vật. Nhưng sau đó đã nhanh chóng thay đổi ý định này và quyết định học về y khoa, vì cho rằng bộ môn này rất cần thiết cho loài người. Để khẳng định xem mình có thể gắn bó với ngành y hay không, Christiane Nüsslein đã theo khoá học làm y tá một tháng trong bệnh viện. Một tháng này đã giúp Christiane Nüsslein khẳng định mình sẽ không thể theo nghề y. Do vậy, Christiane Nüsslein đã quay trở lại với niềm đam mê sinh vật học và quyết định học tại Trường Đại học Tổng hợp Johann-Wolfgang-Goethe, Frankfurt (1962-1964). Mới đầu, Christiane Nüsslein rất thất vọng về Trường và những giờ học trở nên vô cùng buồn chán. Christiane Nüsslein luôn có cảm nghĩ là mình biết nhiều những điều hay hơn thế và chỉ thích mỗi môn thực vật học. Vào mùa hè năm 1964, một chương trình giảng dạy về hoá sinh duy nhất thời đó được mở ra tại Trường Đại học Tổng hợp Eberhard-Karls, thành phố Tübingen, và Christiane Nüsslein đã quyết định nhanh chóng theo học tại đó, để lại gia đình và bạn bè phía sau. Christiane Nüsslein không thật sự thích thú lắm về chương trình giảng dạy hoá sinh vì nói quá nhiều về hoá học hữu cơ và quá ít về sinh vật học, nhưng vẫn cho đây là một việc đáng làm vì khoá học này đã đào tạo rất chắc chắn về các bộ môn cơ bản được ưa thích như hoá học, vật lý với nhiệt động lực học và hoá học lập thể. Vào năm cuối cùng, những bộ môn về vi trùng học, di truyền học đã thật sự cuốn hút Christiane Nüsslein. Christiane Nüsslein đã có cơ hội tham gia các hội nghị chuyên đề và nghe các bài giảng của các nhà khoa học đến từ Max-Planck, Gerhard Schramm, Alfred Gierer, Friedrich Bonhoeffer, Heinz Schaller... Qua đó Christiane Nüsslein đã được biết đến những vấn đề rất mới như sự tái tạo ADN, sự tổng hợp đạm sinh học. Năm 1969, Christiane Nüsslein đã nhận văn bằng hoá sinh của Trường Đại học Tổng hợp Eberhard-Karls. Thầy Heinz Schaller, người hướng dẫn Christiane Nüsslein làm văn bằng tốt nghiệp lại tiếp tục hướng dẫn Christiane Nüsslein làm việc trong phòng thí nghiệm. Thầy Heinz là một nhà hoá học, nhà thí nghiệm tuyệt vời, đã dạy cho Bà về định lượng, hiệu suất, tính trọn vẹn của phản ứng. Luận án đầu tiên của Christiane Nüsslein về sự so sánh các chuỗi ADN của các giai đoạn ngắn với sự lai giống ARN-ADN đã bị bỏ giữa chừng sau khi nhận thấy việc này liên quan chủ yếu đến việc lựa chọn các phương pháp kỹ thuật. Cuối cùng Christiane Nüsslein đã đưa ra một phương pháp mới cho việc tinh chế ARN sạch ở diện rộng và hợp tác cùng với một sinh viên khác, Bertold Heyden, tách những vị trí liên kết ARN và fd Phage ra để có thể hiểu được thêm về cấu trúc của chất hoạt hoá. Mặc dù là một nhà sinh vật học phân tử có kinh nghiệm, Christiane Nüsslein cũng bắt đầu cảm thấy buồn tẻ với đề án này, nhưng đó cũng là thời điểm kết thúc của luận văn tiến sĩ sinh vật học. Năm 1972, sau khi đọc những bài báo của các nhà khoa học Garen và Gehring về các cuộc thí nghiệm giải cứu sự đột biến gen của người mẹ, Christiane Nüsslein đã quyết định nghiên cứu về những đột biến làm ảnh hưởng đến lượng thông tin của tế bào trứng.

Năm 1984, Christiane Nüsslein quan tâm đến việc phân tích về di truyền trong sự phát triển cột sống để tìm hiểu thêm các vấn đề về cột sống, trong đó có cột sống của con người. Christiane Nüsslein cùng với nhóm nghiên cứu của mình đã làm thí nghiệm với cá và đã đưa ra những biện pháp gây giống và nuôi cá an toàn, hiệu quả cao. Năm 1995, tập bản thảo những phát minh của Christiane Nüsslein và đồng nghiệp về 1.200 sự đột biến của cá đã được xuất bản như những tài liệu khoa học giá trị. Trong phòng thí nghiệm, Christiane Nüsslein vẫn tiếp tục nghiên cứu về các cơ cấu phân tử của phôi thai ruồi giấm, cũng như tiếp tục khám phá loài cá như hình mẫu cho việc nghiên cứu những đặc điểm cụ thể của xương sống. Christiane Nüsslein hy vọng sự kết hợp của nhiều nghiên cứu và hệ thống trong một phòng thí nghiệm có thể cung cấp cơ sở cho việc hiểu biết rộng hơn về sự phát triển phức tạp của đời sống động vật và con người.

Là một nhà khoa học say mê nghiên cứu, khám phá, làm việc tận tuỵ, không biết mệt mỏi, Bà luôn là tấm gương cho đồng nghiệp noi theo. Và khả năng nghiệp vụ khoa học của Bà đã phần nào được thể hiện thông qua những chức vụ được bổ nhiệm: Năm 1969-1974, Bà làm giám sát viên luận án; năm 1978-1980, là trưởng nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm sinh vật phân tử châu Âu (EMBL), Heidelberg; năm 1981-1985 là trưởng nhóm nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Friedrich-Miescher tại Tübingen; năm 1985, Bà được bổ nhiệm làm giám đốc chi nhánh độc lập Trường Đại học Max-Planck, Tübingen, vị trí mà đến nay Bà vẫn đang giữ. Bà cũng là giảng viên của Trường y Harvard (1988); giáo sư danh dự của Trường Đại học Tổng hợp Tübingen; giảng viên Trường Tổng hợp Yale (1989). Với những thành tích và cống hiến trong khoa học, Bà đã nhận được nhiều học bổng và giải thưởng: Học bổng sau tiến sĩ (EMBO fellowship) tại phòng thí nghiệm của GS-TS Walter Gehring (1975-1976); học bổng sau tiến sĩ (DFG fellowship) tại phòng thí nghiệm của GS-TS Klaus Sander, Trường Đại học Tổng hợp Freiburg; Huy chương Rosenstiel, Trường Đại học Tổng hợp Brandeis; giải thưởng Mattia, Trường Đại học Roche, New Jersey (1990); giải thưởng Nghiên cứu y học New York (1991); Huy chương Ott Warburg cho những nghiên cứu trong lĩnh vực sinh hoá (1992); Huy chương của Liên đoàn các Tổ chức Sinh hoá Châu Âu (1993) và nhiều giải thưởng khác. Đặc biệt, năm 1995 Bà đã được trao tặng giải thưởng Nobel cho những khám phá về di truyền trong giai đoạn phát triển ban đầu của phôi thai cùng với hai nhà khoa học khác là Eric Wieschaus và Edward Lewis. Edward thật sự là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực di truyền học tiến triển. Còn Eric là người bạn thân và là người cộng tác đắc lực của Bà. Bà cùng với hai ông đã tiến hành nghiên cứu về sự phát triển của ruồi giấm Drosophila bé nhỏ và hoàn toàn vô hại. Con vật này đã thật sự có ích trong việc nghiên cứu, hé mở ra những bí mật sâu xa nhất về sự phát triển từ tế bào trứng riêng lẻ để trở thành một sinh vật sống phức tạp với vẻ đẹp và sự hài hoà tuyệt vời. Bà đã bắt đầu việc nghiên cứu chỉ với mong muốn hiểu biết về nguồn gốc và sự phát triển của hình mẫu trong thời kỳ phát sinh phôi. Bà không nghĩ rằng nghiên cứu này lại thành công đến thế và những phát minh, tìm tòi của Bà lại thích hợp với y học. Những nguyên tắc cơ bản của Bà có được từ nghiên cứu ruồi giấm cũng có thể áp dụng được với những động vật có xương sống, trong đó có cả con người. Những phát minh, cống hiến to lớn của Bà đã thật sự đã mang lại lợi ích thiết thực, phục vụ cho khoa học nói chung và con người nói riêng. Bà thật xứng đáng là một người phụ nữ đáng kính phục, một nhà khoa học lớn của thế kỷ XX.

(Nguồn:olympiavn.org/forum)

Thêm nhận xét


Security code
Không rõ, lấy lại hình mới